Chinh-Tri-Xa-Hoi,
CHO NGÀY 19/6: VỀ NGỤY QUYỀN SÀI GÒN
Nguyễn Xuân
Quang
Khi cuộc kháng
chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn phản công,
cuối năm 1947 đầu năm 1948 trên một chiến hạm của quân Pháp ở Vịnh Hạ Long, quân
Pháp lập ra tổ chức ngụy quyền quốc gia Việt Nam (QGVN) để hợp thức hóa âm mưu
đánh chiếm và khai thác thuộc địa lâu dài ở Việt Nam.

Tổ chức mang tên
QGVN này, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ, lấy bản
nhạc "Tiếng gọi sinh viên" của Lưu Hữu Phước
sửa lại lời thành “Tiếng gọi công dân” làm quốc
ca. Pháp phong cho Bảo Đại làm quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân, một viên tướng Pháp
gốc Việt làm thủ tướng”.
Tổ chức QGVN
nhiều lần thay đổi thủ tướng: Từ Nguyễn Văn Xuân (1948), đến Nguyễn Phan Long
(đầu 1950), Trần Văn Hữu (từ cuối 1950), Nguyễn Văn Tâm (1952), Bửu Lộc (1953,
1954) và Ngô Đình Diệm (1954-1955).
Tháng 6/1954,
biết trước sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneve về Việt Nam
sắp ký kết, Hoa Kỳ và Pháp lên kế hoạch đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ sang Pháp bổ
nhiệm làm thủ tướng tổ chức QGVN thay cho Bửu Lộc. Ngày 7/7/1954, Mỹ đưa Ngô
Đình Diệm về Việt Nam để thực hiện kế hoạch chiếm đóng miền Nam sau khi Hiệp
định Geneve ký kết vào ngày
20/7/1954.
Như vậy, tổ chức
QGVN mà Ngô Đình Diệm là thủ tướng sau cùng là tổ chức do người Pháp lập ra
trong thời gian xâm chiếm Việt Nam bằng vũ lực, là tổ chức không chính danh, mọi
quyền hành đều do thực dân Pháp quyết định. Do vậy, người dân gọi tổ chức nầy là
“ngụy quyền QGVN” hoặc "ngụy quyền Bảo Đại". (Theo tự điển Hán Việt: Ngụy (偽): có nghĩa là
giả, là không thật, không chính
danh).
Lịch sử Việt Nam
có những triều đại bị coi là ngụy
như:
- Nhà Hồ và nhà
Mạc, vì soán ngôi nên bị các sử gia Phong kiến gọi là "ngụy triều".
- Thời Tự Đức
trở đi, các triều đại nhà Nguyễn đều là tay sai của Pháp do Pháp tùy tiện soán
lập nên được các sĩ phu Bắc - Trung - Nam gọi đó là những ngụy triều bù nhìn,
như “ngụy triều Hiệp Hòa”, “ngụy triều Đồng Khánh”, “ngụy triều Khải Định”,
v.v.
Cụ Phan Châu
Trinh khi viết về sự hy sinh của tướng quân Cao Thắng trong nghĩa quân Phan Đình
Phùng, cũng viết: Cao tướng quân bị sĩ quan Pháp và vài trăm ngụy binh đón đánh.
Từ "ngụy" đã được sử dụng từ lâu rồi).
Nói chung, những
tổ chức do các thế lực bên ngoài dựng lên không chính danh, làm theo mệnh lệnh
từ bên ngoài chống lại người Việt Nam; sức mạnh, sự tồn tại hay tan rả đều do
thế lực bên ngoài quyết định đều được coi là ngụy. Cờ vàng, quốc ca của tổ chức
QGVN và Bảo Đại do thực dân Pháp tạo ra cũng là sản phẩm không chính
danh.
Năm 1949, thực
dân Pháp dựng ra tổ chức QGVN và Bảo Đại. Họ lấy một bản nhạc Cách mạng, đổi lời
“Nầy sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi…” thành “Nầy công dân dân ơi! Quốc
gia đến ngày giải phóng…” để làm quốc ca cho QGVN - một tổ chức tay sai của quân
xâm lược: chiến đấu cho Liên hiệp Pháp để chống lại Việt Minh. Thật không biết
phải dùng ngôn từ gì để nói cho đúng. Một sự bắt quàng… quá tồi
tệ!

Bản nhạc“Tiếng
gọi sinh viên” của cố Giáo sư, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, cố Bộ trưởng Bộ Thông tin
Văn hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sáng tác và được
sinh viên yêu nước biểu diễn dưới chân núi Nghĩa Lĩnh - Đền Hùng năm 1942 là
nhạc phẩm “La Marche des Étudiants” sáng tác của chính Lưu Hữu Phước và lời Mai
Văn Bộ năm 1939 được đổi ra lời Việt cho phù hợp với phong trào đấu tranh của
thanh niên lúc bấy
giờ.
Bài “Tiếng gọi
sinh viên” ra đời trong hoàn cảnh Thế chiến thứ hai bước vào giai đoạn ác liệt,
Phát Xít Nhật mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương và Đông Nam Á. Tình hình
lúc nầy vừa là thách thức vừa là thời cơ đối với Phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân Việt Nam. Trong khí thế sục sôi cách mạng “Tiếng gọi sinh
viên” của Lưu Hữu Phước ra đời như hồi kèn xung trận thúc giục thanh niên và
toàn dân Việt Nam tiến lên dưới ngọn cờ Cách mạng của Mặt trận phản đế Đông
Dương đánh đổ quân xâm lược Pháp-Nhật giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc Việt
Nam.
Mãi đến năm 1955
Ngô Đình Diệm soán ngôi quốc trưởng của Bảo Đại, đổi tên tổ chức QGVN thành Việt
Nam cộng hòa (VNCH), ông ta vẫn giữ nguyên sự tồi tệ nầy của Bảo Đại. Nhiều lần
các họ tập trung lại cố tìm một bài khác để thay thế, nhưng không biết tìm đâu
ra, nên đành để nguyên bài ca của Cách mạng mà hát suốt mấy chục năm nay! Một tổ
chức xâm lược, chia cắt đất nước, phân ly dân tộc Việt Nam mà cũng bày trò hô
hào “… giải phóng.”. Một tổ chức hủy diệt đất nước, tàn sát nhân dân Việt Nam
bằng hàng chục triệu tấn bom đạn, hàng trăm triệu lít chất độc da cam mà cũng hô
hào:“… hiến thân dưới cờ”. Và cũng chẳng biết cờ gì! Nếu đem phân tích cái hoàng
kỳ quẻ kiền của Bảo Đại sẽ thấy thêm nhiều cái tồi tệ
nữa.
Lấy uy danh
chính nghĩa để ngụy trang che đậy cái phi nghĩa thì có phi nghĩa nào
hơn!
I. Tổ chức ngụy
quyền Quốc gia Việt
Nam
Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 thành công, từ trong đêm trường nô lệ nhân dân Việt Nam đã đứng lên
lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và Phát xít Nhật giành lại độc lập tự do
cho đất nước. Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (CPVNDCCH), nhà nước độc lập đầu tiên của
nhân dân Việt nam, sau gần 100 năm dưới ách thống trị của thực dân
Pháp.
Chiều ngày
25-8-1945, Bảo Đại đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng vạn nhân dân Huế và sau đó
trao ấn tín, Quốc bảo của hoàng triều nhà Nguyễn cho ông Trần Huy Liệu, đại diện
của chính phủ Cách Mạng Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn thoái vị, Bảo Đại có câu
nói nổi tiếng:"Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước nô
lệ" và "Trẫm quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của hoàng gia mà
lung lạc dân chúng.
Việt Nam độc lập muôn năm! Dân chủ Cộng hoà muôn năm!" . Vị cựu hoàng đã vui vẻ nhận lời làm cố vấn cho CP VNDCCH.
Việt Nam độc lập muôn năm! Dân chủ Cộng hoà muôn năm!" . Vị cựu hoàng đã vui vẻ nhận lời làm cố vấn cho CP VNDCCH.
Nhân dân Huế,
nhân dân cả nước rất cảm kích và rất tin đó là tâm phúc của một cựu hoàng dân
tộc! Nhưng do bản chất là một ông vua bị trị nên khi thực dân Pháp trở lại xâm
lược Việt Nam, Bảo Đại đã phản bội lại nhân dân, tiếp tục làm tay sai cho quân
xâm lược
Pháp!
Nước Việt Nam
độc lập vừa mới ra đời, ngay ngày 23/9/1945 thực dân Pháp theo chân quân Đồng
minh (Anh-Mỹ) vào tước vũ khí phát xít Nhật trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai
(lần thứ nhất vào năm
1858).
Với tinh thần
“Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mấy nước, nhất định không chịu làm
nô lệ”, đêm 19/12/1946, trong vùng kháng chiến Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến. Mặc dù không cân sức nhưng dưới ngọn cờ chính nghĩa
Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã thề quyết một lòng chiến đấu hy sinh đánh
sập hoàn toàn âm mưu xâm lược của thực dân Pháp bằng chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ năm 1954
.
Năm 1947, trong
vùng kháng chiến, cố vấn Bảo Đại tháp tùng phái đòan VNDCCH đi công cán tại
Trung quốc. Ông vốn không quen chịu khó chịu khổ được như một nhà CM, lúc ở Hồng
Kông, cố vấn Bảo Đại đã bị cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau, dụ
dỗ đưa ông về Việt Nam trong vùng quân Pháp chiếm đóng. Quân Pháp đã lợi dụng
danh nghĩa dựng lên một tổ chức ngụy quyền lấy tên là Quốc gia Việt Nam (QGVN)
phong cho Bảo Đại chức quốc trưởng nhằm làm bình phong cho mưu đồ bắt lính và
xâm lược Việt Nam lâu
dài.
II. Đổi tên ngụy
quyền QGVN thành
VNCH
Ngày 7/5/1954,
quân Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ buộc phải ký Hiệp định Geneve với CP VNDCCH
công nhận độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và rút hết quân về
nước.
Ngày 20/7/1954
Hiệp định Geneve được ký
kết.
Ngày 7/7/1954
Hoa Kỳ đã đưa thủ tướng ngụy quyền QGVN Ngô Đình Diệm về Việt
Nam.
Biết Bảo Đại
không còn chỗ dựa, nhân sự việc bị quốc trưởng Bảo Đại đang công du tại Pháp đe
dọa cách chức, ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế
Bảo Đại, tự phong mình làm quốc trưởng (ba ngày sau, 26/10/1955 đổi thành tổng
thống). Bộ máy chiến tranh tâm lý tổ chức QGVN thời Ngô Đình Diệm hoạt động rất
mạnh cổ động cho việc trưng cầu dân ý: “Phiếu xanh bỏ giỏ/Phiếu đỏ bỏ bì” (Phiếu
Ngô Đình Diệm màu đỏ) và loa đài không ngớt lời cổ vũ: “Hăm ba tháng mười, Bảo
Đại dân truất ngôi/Ngô Đình Diệm tổng thống muôm
năm!/…”).
Hiệp định Geneve
ký kết ngày 20/7/1954, ngày 22/7/1954, Ngô Đình Diệm ra lệnh đem cờ rủ ra treo
toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để chứng tỏ rằng ông ta chống đối sự chia
cắt đất nước... Ngô Đình Diệm cố tình diễn kịch như thế để dân chúng hiểu sai là
Hiệp định Geneve chia cắt đất nước; ông ta ngụy tạo cái cớ để ly khai cát cứ
miền Nam. Những ai nói đến thống nhất Việt Nam lập tức bị tổ chức của ông ta quy
tội là Việt cộng, bị cầm tù và giết
chết.
Hiệp định Geneve
qui định vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời để hai bên quân Liên hiệp Pháp bao
gồm cả ngụy quân ngụy quyền Bảo Đại và các sắc quân chiến đấu dưới chiêu bài
Liên hiệp Pháp và VNDCCH tập kết quân, tránh xung đột nhau khi Pháp rút ra khỏi
Việt Nam. VNDCCH tập kết về phía Bắc vĩ tuyến 17, quân Liên hiệp Pháp tập kết về
phía Nam. Hiệp định cũng quy định sau hai năm người Pháp rút quân xong, vào
tháng 7/1956 , dân Việt hai miền Việt Nam sẽ hiệp thương tổng tuyển cử thống
nhất đất nước. Do vậy, Ngô Đình Diệm nói hiệp định chia đôi đất nước là hoàn
toàn “ngụy tạo”, lừa phỉnh nhân
dân.
Không chờ đến
ngày hiệp thương tổng tuyển cử tháng 7/1956 theo quy định của Hiệp định Geneve,
dưới khẩu hiệu “chống cộng – bài phong” ngày 26/10/1955 Ngô Đình Diệm tự ban
hành Hiến pháp, đổi tên tổ chức ngụy quyền QGVN thành VNCH, lấy ngày 26/10 làm
ngày quốc khánh đệ nhất Cộng hòa; giữ nguyên cờ vàng sọc đỏ, quốc ca và quốc huy
của ngụy quyền Bảo Đại, riêng quốc huy được xóa hình con rồng ở
giữa.
Tổ chức ngụy
quyền VNCH tiếm xưng này, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới chia đôi đất nước, tách
miền Nam ra khỏi nước Việt Nam thống nhất. Nó phản lại hoàn toàn tình cảm và
truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Chính vì thế nhân dân miền Nam và
nhân dân cả nước buộc phải đấu tranh để thống nhất đất nước. Đây chính là nguyên
nhân cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống lại cuộc xâm lăng chia
cắt đất nước, phân li dân tộc do Hoa Kỳ và Ngô Đình Diệm gây ra từ năm
1954-1975.
Nhằm củng cố thế
lực, Ngô Đình Diệm đưa vào bộ máy cai trị miền Nam toàn bộ những người trong bộ
máy cai trị của Pháp và hầu hết những người có quan hệ chặt chẽ nhiều đời với
Pháp ở miền Nam và từ miền Bắc chạy theo được các tàu hải quân Pháp và Hoa Kỳ
chở vào miền Nam năm
1954.
Theo ông Hoàng
Thanh Phúc đang ở Autralia có bài viết trên BBC tiếng
Việt: “Những người chạy theo Pháp vào Nam gồm các công chức của
chính quyền Pháp, một số các nhà trí thức, nhà giáo, thành viên các đảng phái
quốc gia, các nhà tư bản, doanh thương và đại đa số giáo phẩm, đồng bào Công
giáo (có một số ít đạo hữu Phật giáo, Tin lành). Trong số 860 ngàn người chạy
vào Nam thì có trên 650 ngàn người Công giáo; hàng giáo phẩm có 1127
vị. Quân Pháp bố trí nhiều tàu hải quân, tổ chức đưa người
vào nam. Ngô Đình Diệm chi một nguồn kinh phí lớn để ổn định đời sống cho họ tại
các “khu trù mật” nhằm làm chỗ dựa cho tổ chức VNCH của ông
ta”.
Khi vào miền
Nam, Ngô Đình Diệm tiến hành ngay việc truy bắt các người có liên quan đến cuộc
kháng chiến chống Pháp; dẹp bỏ các tổ chức đảng phái chính trị như: Bình Xuyên,
Hòa Hảo, Cao Đài, Đại Việt Quốc dân đảng, Việt Nam Quốc dân đảng và các tổ chức
đối lập khác; đàn áp đẩm máu tín đồ Phật giáo trên khắp miền
Nam.
Ngô Đình Diệm
cắt đứt mọi quan hệ với Pháp, chuyển sang nhận hoàn toàn viện trợ của Hoa Kỳ
theo cam kết của Tổng thống Eisenhower (Ngày 23/10/1954,
tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Ngô Đình Diệm cho
biết từ đây QGVN sẽ nhận viện trợ trực tiếp của Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương
cục Pháp như trước nữa).
“… Từ năm 1954
đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho tổ chức VNCH 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân
sự là 1,5 tỷ đôla.
Trong những năm
1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla để trang bị cho các lực lượng VNCH gồm
quân đội: 170 ngàn người; cảnh sát 75 ngàn người. Từ năm 1955 đến 1960, có tất
cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt
Nam. Số viện trợ này giúp VNCH duy trì bộ máy hành chính và quân đội thoát hẳn
sự chi phối của Pháp. Đội quân VNCH dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp
bằng của Mỹ…”.
0 nhận xét: